Hotline: 0963 91 88 96

Tác dụng phụ của hóa trị liệu

Hóa trị liệu (Chemotherapy) là một trong những liệu pháp được sử dụng trong điều trị ung thư. Liệu pháp này ra đời từ những năm 60 của thế kỷ thứ 19. Hóa trị liệu hiểu một cách đơn giản là sử dụng hóa chất để gây độc tế bào, tác động vào một trong những giai đoạn của chu kỳ phát triển tế bào. Hóa trị liệu thường được dùng phối hợp với các liệu pháp điều trị khác, như phẫu thuật, xạ trị, v.v...

Đến nay, đã có nhiều thuốc mới với những phác đồ điều trị mới được giới thiệu và áp dụng. Các thuốc hoá chất có tác động đến đại đa số các loại ung thư. Tuy nhiên, do hóa chất được đưa đi khắp cơ thể, tới từng "ngóc ngách" nên có một vấn đề lớn đối với hóa trị liệu là tác dụng phụ do thuốc gây ra là rất lớn, hậu quả khá nghiêm trọng bởi các thuốc hóa chất không phân biệt được tế bào lành hay tế bào ung thư; khi vào cơ thể, chúng tác động cả vào các giai đoạn của chu kỳ phát triển của cả tế bào lành, gây ảnh hưởng nặng nề đến chức năng của các cơ quan trong cơ thể.

Không phải tất cả các bệnh nhân khi hóa trị liệu đều gặp những tác dụng phụ như nhau. Những yếu tố ảnh hưởng đến các tác dụng phụ bao gồm phác đồi điều trị, loại thuốc và liều lượng, độ tuổi của người bệnh, các vấn đề sức khỏe trước đó (tình trạng chức năng gan, thận, tim, v.v...), hành vi sống trước đó (vấn đề rượu, bia, thuốc lá, thói quen tập thể dục, v.v...). Dù là gặp nhiều hay ít, tác động ngắn ngày hay dài ngày thì những tác dụng phụ khi điều trị hóa chất đều là nỗi ám ảnh, sợ hãi của người bệnh ung thư.

Dưới đây chúng tôi sẽ liệt kê các tác dụng phụ thường gặp khi điều trị ung thư bằng hóa chất.

 1.      Hệ tuần hoàn (tim, mạch

 Một số loại thuốc hóa trị có thể làm suy yếu cơ tim, dẫn đến bệnh cơ tim, hoặc ảnh hưởng đến nhịp tim, gây rối loạn nhịp tim. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng bơm máu hiệu quả của tim. Một số loại thuốc hóa trị có thể làm tăng nguy cơ đau tim.

 2.      Máu và thành phần của máu

Hóa chất có thể gây tổn hại cho các tế bào trong tủy xương, nơi máu được sản xuất. Điều này có thể dẫn đến một số vấn đề:

·        Thiếu hồng cầu (tế bào máu đỏ): Hồng cầu mang oxy đến các tế bào, mô. Thiếu máu xảy ra khi cơ thể không sản xuất đủ tế bào hồng cầu, tiểu cầu làm cho bạn cảm thấy vô cùng mệt mỏi, cảm giác người lâng lâng, da nhợt nhạt, cảm thấy người lạnh do thiếu hồng cầu sưởi ấm.

·        Thiếu tiểu cầu: tiểu cầu tham gia vào quá trình đông máu nên khi thiếu dễ bị xuất huyết nội tạng hoặc các mảng xuất huyết dưới da. Các biểu hiện thường gặp là chảy máu cam, nôn ra máu hoặc hoặc đi ngoài phân đen hoặc máu tươi, kinh nguyệt ra nhiều máu hơn và kéo dài hơn bình thường...

·        Thiếu bạch cầu (tế bào máu trắng): tế bào miễn dịch (xem ở dưới)

3. Hệ miễn dịch

Suy giảm chức năng của hệ thống miễn dịch do các tế bào miễn dịch bị tiêu diệt và tủy xương không sản xuất được tế bào bạch cầu khi bị suy do hóa chất. Biểu hiện là cơ thể dễ bị nhiễm vi khuẩn, vi rút, nấm như viêm phổi, viêm đường tiết niệu, lở loét miệng, nấm miệng, v.v...

4. Hệ tiêu hóa

·        Gan: gan là "nhà máy khử độc của cơ thể" nên bị ảnh hưởng đầu tiên. Việc sử dụng hóa chất sẽ làm suy gan, giảm chức năng tiết mật và các chức năng quan trọng khác của gan, làm gia tăng nguy cơ nhiễm độc cho cơ thể.

·        Những triệu chứng của tiêu hóa: Buồn nôn, mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon là những triệu chứng phổ biến; có thể có cơn nôn mửa.

·        Khô miệng, lở loét miệng có thể làm khó nhai và nuốt. Lở loét cũng có thể hình thành trên lưỡi, môi, lợi/nướu răng, hoặc trong cổ họng. Lở loét miệng có thể làm gây dễ bị chảy máu và nhiễm trùng.

·        Đường ruột: Tế bào niêm mạc đường ruột bị tiêu diệt và suy giảm nặng nề nên các chức năng của dạ dày, ruột non, đại tràng đều bị ảnh huwowngrnghieme trọng. Bên cạnh đó, hệ miễn dịch đường ruột, nơi tập trung 80% kháng thể của cơ thể cũng bị suy giảm nặng nệ, hậu quả là tiêu chảy và các hình thức rối loạn tiêu hóa khác xuất hiện: phân lỏng, táo bón...

5. Hệ bài tiết (thận và bàng quang)

Thận sẽ phải làm việc rất nhiều khi thuốc hóa trị vào cơ thể. Trong quá trình này, một số tế bào thận và bàng quang có thể trở nên bị kích thích hoặc bị hư hỏng. Các triệu chứng của tổn thương thận là có thể viêm cầu thận cấp như giảm đi tiểu, phù nề và đau đầu. Các triệu chứng của kích thích bàng quang bao gồm một cảm giác rát khi đi tiểu và tăng tần số tiết niệu. Lưu ý là một số loại thuốc có thể gây cho nước tiểu có màu đỏ hoặc màu cam trong một vài ngày. Đây không phải là mối lo lớn.

6. Hệ sinh sản

Các triệu chứng như mệt mỏi, lo lắng, và biến động nội tiết tố có thể ảnh hưởng ham muốn tình dục ở cả nam giới và phụ nữ. Thuốc hóa trị liệu có thể có ảnh hưởng đến hormone:

·        Ở phụ nữ, thay đổi nội tiết tố có thể mang về các cơn nóng bừng, kinh nguyệt không đều, hoặc xuất hiện đột ngột của thời kỳ mãn kinh. Họ có thể trở nên tạm thời hoặc vĩnh viễn bị vô sinh. Các triệu chứng khác là các mô âm đạo bị khô, có thể làm cho giao hợp khó chịu hoặc đau đớn. Nguy cơ nhiễm trùng âm đạo tăng. 

·       Ở nam giới, một số loại thuốc hóa trị có thể gây hại cho tinh trùng hoặc số lượng tinh trùng thấp hơn, và vô sinh tạm thời hoặc vĩnh viễn là điều có thể.

7. Hệ thần kinh

Hệ thống thần kinh trung ương kiểm soát cảm xúc, kiểu suy nghĩ, và phối hợp. Thuốc hóa trị có thể gây ra vấn đề với bộ nhớ, hoặc làm cho nó khó khăn để tập trung hoặc suy nghĩ rõ ràng. Triệu chứng này đôi khi được gọi là "hóa sương mù," hoặc "hóa não." Suy giảm nhận thức nhẹ này có thể hết sau khi điều trị, hoặc có thể kéo dài trong nhiều năm. Trường hợp nặng có thể thêm vào sự lo lắng và căng thẳng.

Một số loại thuốc hóa trị có thể gây đau, yếu, tê hoặc ngứa ran ở bàn tay và bàn chân (bệnh thần kinh ngoại biên). Cơ thể cảm thấy mệt mỏi, đau nhức, hay run rẩy. Phản xạ và nhỏ kỹ năng vận động có thể bị chậm lại. 

8. Hệ da, lông, tóc, móng

Nhiều loại thuốc hóa trị ảnh hưởng đến nang lông và có thể gây rụng tóc (rụng tóc) trong vòng một vài tuần điều trị đầu tiên. Rụng tóc có thể xảy ra trên đầu, lông mày, lông mi, và cơ thể. Như phiền vì nó có thể được, rụng tóc là tạm thời. Tóc tăng trưởng mới thường bắt đầu một vài tuần sau khi điều trị cuối cùng.

Một số bệnh nhân bị kích ứng da nhẹ như khô da, ngứa, phát ban, có thể tăngsự nhạy cảm với ánh nắng mặt trời. Móng tay và móng chân có thể chuyển sang màu nâu hoặc màu vàng, và giòn, dễ gãy. Tăng trưởng móng tay có thể bị chậm lại, móng tay có thể bị nứt hoặc vỡ một cách dễ dàng. Trong trường hợp nghiêm trọng, móng tay, chân có thể bị bong tróc khỏi nền móng. 

 9. Hệ thống xương

Hầu hết mọi người và đặc biệt là phụ nữ mất một số khối lượng xương khi về già. Một số loại thuốc hóa trị có thể gây ra giảm canxi và đóng góp vào quá trình loãng mất xương, đặc biệt là ở phụ nữ sau mãn kinh và những người có thời kỳ mãn kinh đã được đưa ra đột ngột do hóa trị liệu.

10. Tâm lý và cảm xúc

 Sống chung với ung thư và xử lý bằng hóa trị có thể gây ra một số cảm xúc. Bạn có thể cảm thấy sợ hãi, căng thẳng, hay lo lắng. Một số người có thể bị trầm cảm. Những xáo trộn trong công việc, nguồn lực tài chính, và trách nhiệm của gia đình trong khi điều trị ung thư có thể trở nên rất lớn đối với nhiều người.

 Tài liệu tham khảo

  • http://www.cancer.gov/cancertopics/coping/physicaleffects/chemo-side-effects
  • http://www.healthline.com/health/cancer/effects-on-body
  • http://www.cancer.net/navigating-cancer-care/how-cancer-treated/chemotherapy/side-effects-chemotherapy
  • http://www.cancer.org/treatment/treatmentsandsideeffects/treatmenttypes/chemotherapy/understandingchemotherapyaguideforpatientsandfamilies/understanding-chemotherapy-chemo-side-effects
  • Http://baigiangykhoa.edu.vn/noi-khoa/benh-noi-tiet/nhung-nguyen-ly-co-ban-ve-dieu-tri-hoa-chat-trong-ung-thu.html
  • http://www.cancer.org/treatment/treatmentsandsideeffects/treatmenttypes/chemotherapy/understandingchemotherapyaguideforpatientsandfamilies/understanding-chemotherapy-chemo-side-effects