Hotline: 0963 91 88 96

Điều trị viêm gan B

Click vào đây để đọc ngay:


Viêm gan B không chỉ là một bệnh nguy hiểm mà đây còn là bệnh có những diễn biến rất phức tạp. Bệnh viêm gan B mãn tính là bệnh kéo dài 6 tháng hoặc lâu hơn khi người bệnh không tiến hành điều trị hoặc điều trị không mang lại hiệu quả. Vậy phương pháp nào giúp hỗ trợ điều trị viêm gan B mang lại hiệu quả?

 

1. Viêm gan virus B

Viêm gan virus B (viêm gan siêu vi B) là tình trạng tổn thương cấp tính và/hoặc mãn tính của gan do virus viêm gan B gây ra.

Virus viêm gan B (viết tắt là HBV) thuộc họ Hepadnaviridae, gene di truyền ADN chuỗi kép, kích thước 27 nm. Virus viêm gan B có hình cầu, vỏ bao quanh là lipoprotein chứa kháng nguyên bề mặt HBsAg. Virus viêm gan B có sức đề kháng cao, bị bất hoạt ở nhiệt độ 1000C trong vòng 20 phút, formalin 5% trong vòng 12 giờ, cloramin 3% trong vòng 2 giờ.

2. Đường lây truyền

Virus viêm gan B lây truyền từ người này sang người khác qua ba (3) đường: đường máu, quan hệ tình dục và mẹ nhiễm virus viêm gan B truyền cho con. Trong giai đoạn ba (3) tháng đầu thai nghén, tỷ lệ lây nhiễm từ mẹ sang con là 1%, nếu mẹ bị nhiễm virus viêm gan B bệnh ở 3 tháng giữa của thai kỳ thì tỷ lệ lây nhiễm sang con là 10% và tới 60-70% nếu mẹ bị mắc bệnh ở 3 tháng cuối của thai kỳ. Nguy cơ truyền bệnh cho thai nhi có thể lên tới 90% nếu không có biện pháp bảo vệ. Ngay sau khi sinh, 50% số trẻ này sẽ bị viêm gan mãn tính và có nguy cơ bị xơ gan trước lúc trưởng thành.

Theo Văn phòng đại diện WHO Việt Nam thì có trên 90% người trưởng thành khỏe mạnh bị nhiễm virus viêm gan B sẽ hồi phục và loại bỏ hoàn toàn virus trong vòng sáu tháng.

Nhiễm viêm gan B có thể dẫn đến nhiễm lâu dài mãn tính trong đó virus liên tục tồn tại trong máu và chất dịch khác của cơ thể người bị nhiễm. Tình trạng này được gọi là nhiễm virus viêm gan B mãn tính.

Nhóm có nguy cơ cao nhiễm virus là những ngư­ời tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục không an toàn, tù nhân, nhân viên y tế, người phải truyền máu, ghép tạng, v.v...

3. Dịch tễ học viêm gan B

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính có khoảng 2 tỷ người đã bị lây nhiễm HBV (cứ 3 người có 1 người nhiễm), và khoảng 400 triệu người bị nhiễm HBV mãn tính. Ước tính mỗi năm sẽ có thêm từ 10-30.000.000 ca nhiễm mới HBV và có khoảng 1 triệu người chết mỗi năm do bệnh viêm gan B và các biến chứng của nó. Bình quân cứ mỗi phút qua đi, có 2 người chết do hậu quả của viêm gan B. Múc độ lưu hành của viêm gan virus B được chia làm 3 khu vực chính: 1) Vùng dịch lưu hành mạnh: tỷ lệ HBsAg (+) 5-20% gồm các quốc gia ở Đông Nam Á, Trung Quốc và Châu Phi; 2) Vùng lưu hành trung bình: tỷ lệ HBsAg (+) 1-5%: các nước ở Châu Âu, Nam Mỹ, Đông Âu…; 3) Vùng dịch lưu hành thấp: tỷ lệ HBsAg(+) 0,1-1% như ở Úc, Bắc Mỹ, Tây Âu ...

Để chống lại dịch bệnh âm thầm này, WHO quyết định  lấy ngày 28/7 hàng năm là "Ngày Quốc tế phòng chống viêm gan virus".

Việt Nam nằm trong khu vực dịch lư­u hành mạnh, tỷ lệ HBsAg theo một số số liệu điều tra là 15-20%. Theo Văn phòng đại diện WHO Việt Nam thì nước ta có tỷ lệ hiện mắc viêm gan B cao, ước tính có khoảng 8,6 triệu người nhiễm virus viêm gan B. Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B mãn tính được ước tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và 12,3% ở nam giới. Đường lây truyền viêm gan B chính ở Việt Nam là từ mẹ sang con. Theo ước tính, từ một cuộc khảo sát năm 2011, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị nhiễm virus viêm gan B là 2%.

4. Hậu quả của viêm gan B

  • Gây viêm gan cấp tính và mãn tính.
  • Gây xơ gan và ung thư gan
  • Gây tốn kém kinh tế cho hộ gia đình do phải chi phí cho điều trị tốn kém

5. Thuốc điều trị viêm gan B

Thuốc điều trị viêm gan B thường được chia thành hai nhóm chính:

  • Nhóm 1 "Điều trị không đặc hiệu": bao gồm thuốc, Thực phẩm chức năng có công dụng bảo vệ tế bào gan, phục hồi chức năng gan. Nhóm này rất đa dạng và phong phú, gồm cả đông, tây y. Loại sản phẩm được nhắc đến nhiều và ưa dùng là Sillymarin kết hợp với hàm lượng cao các vitamin nhóm B.
  • Nhóm 2 "Điều trị đặc hiệu": là nhóm thuốc có công dụng ức chế sự sinh sản (ức chế HBeAg và HBV-DNA trong máu) và cải thiện chức năng gan (ALT và AST về mức bình thường). Mục tiêu cơ bản là dự phòng tổn thương và chống sẹo hóa nhu mô gan, làm ngừng tiến trình đến xơ gan, dự phòng các biến chứng của xơ gan trong đó có ung thư gan. Do vậy, các loại thuốc ở nhóm này được dùng để điều trị cho những bệnh nhân có virus đang hoạt động sinh sản (HBeAg dương tính và HBV DNA dương tính), gây thay đổi chức năng gan (tăng men gan ALT và AST).

Ở nhóm "điều trị đặc hiệu", có loại thuốc hay được nhắc đến nhiều là "Interferon". Interferon có nhiều loại nhưng chỉ có Interferon – alpha 2b được cấp phép sử dụng trong điều trị bệnh viêm gan B mãn. Interferon – alpha 2b là một protein nhỏ tự nhiên trong cơ thể được tạo ra bởi bạch cầu để chống lại sự nhiễm virus. Interferon –alpha 2b còn có hiệu quả kháng virus trực tiếp bằng cách hỗ trợ hệ miễn dịch của cơ thể làm sạch virus. Một đợt điều trị interferon kéo dài từ 4-6 tháng, Interferon được tiêm dưới da mỗi ngày với liều 5 triệu đơn vị hay 3 lần một tuần với liều 10 triệu đơn vị. Kết quả điều trị là làm giảm sự sinh sản HBV 30-40% ở bệnh nhân được điều trị. Tác dụng phụ khi tiêm interferon vào cơ thể bao gồm biểu hiện của hội chứng giống cúm (chiếm 80%), lo âu (20%), suy cường giáp (6%), giảm chức năng xương ống (40%, giảm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và rụng tóc (25%).

6. Phối hợp liệu pháp miễn dịch sinh học trong ức chế virus để điều trị viêm gan B

6.1. Hệ thống miễn dịch của cơ thể

Hệ thống miễn dịch của cơ thể có nhiều loại tế bào khác nhau, trong đó có các loại tế bào có chức năng khá đặc biệt:

  • Đại thực bào (Macrophage): là những tế bào bạch cầu có vai trò thực bào (ăn các tế bào) các thành phần cặn bã của tế bào và các tác nhân gây bệnh, sau đó đem những thứ chúng vừa ăn được đến "trình diện" với các tế bào T hỗ trợ để hệ miễn dịch nhận biết và sản xuất ra các kháng thể đặc hiệu để tiêu diệt chúng (quá trình này còn được gọi là opsonin hóa).
  • Tế bào sát thủ tự nhiên NK: NK là chữ viết tắt của "Natural Killer Cell". NK sinh trưởng trong tủy sống, chiếm từ 10 đến 15% trong số các tế bào Lympho miễn dịch. NK có vai trò nhận diện và tiêu diệt các tế bào của cơ thể đã bị biến đổi do chuyển dạng thành tế bào ung thư hoặc bị biến đổi do nhiễm vi sinh vật (vi khuẩn, virus).
  • Interferon: là một loại cytokine (có vai trò trong việc truyền đạt thông tin của hệ thống miễn dịch). Interferon được các tế bào của hệ miễn dịch sản xuất nhằm chống lại virus khi chúng xâm nhập và/hoặc xuất hiện trong thể. Do vậy, Interferon là hàng rào bảo vệ đầu tiên của cơ thể chống lại virus, vi khuẩn và sự phát triển bất thường của tế bào. Khi virus, tế bào bất thường (ung thư) xuất hiện trong máu, Interferon được sản xuất để ức chế sự sinh sản của virus, làm giảm tối đa tải lượng virus trong máu và sự sinh trưởng và phát triển (sự phân hóa) của chúng. Do đó, interferon được sử dụng như một chất điều trị không đặc hiệu cho mọi nhiễm trùng do virus và ức chế khả năng hình thành các khối u ung thư. Interferon là một trong bốn (4) loại thuốc điều trị viêm gan virus (điều trị viêm gan b, điều trị viêm gan C) đã được Cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) công nhận.

Đại thực bào, tế bào sát thủ tự nhiên NK và Interferon tấn công virus viêm gan B như thế nào?

Khi virus xâm nhập vào các tế bào lành của cơ thể, tế bào NK sẽ tấn công để loại bỏ những tế bào đã nhiễm virus đó. Khả năng này còn mạnh mẽ hơn khi chúng được kích thích bởi các cytokine do đại thực bào tiết ra (interleukin-12 (IL-12).

Ngược lại, các tế bào NK hoạt hoá tổng hợp và chế tiết ra cytokine IFN-g (interferon g), một yếu tố hoạt hoá đại thực bào làm tăng khả năng giết các vi sinh vật đã bị đại thực bào nuốt vào. Các tế bào NK và các đại thực bào hoạt động hợp tác với nhau để loại bỏ các vi sinh vật nội bà (virus, vi khuẩn sống trong tế bào): các đại thực bào nuốt vi sinh vật gây bệnh và sản xuất ra IL-12, nhờ có IL-12 nên các tế bào NK được, hoạt hoá để tiết ra IFN-g, sau đó IFN-g lại hoạt hoá các đại thực bào giết các vi sinh vật mà chúng nuốt vào.

Interferon-g (IFN-g), các IFN type 1, (IFN-a, IFN-b) đều tham gia vào quá trình hoạt hoá đại thực bào, kích thích một số đáp ứng tạo kháng thể, khả năng kháng virus, tăng biểu lộ các phân tử MHC lớp I để tăng khả năng tấn công của tế bào NK đối với các tế bào nhiễm virus.

6.2. Điều trị viêm gan B bằng liệu pháp miễn dịch sinh học

Liệu pháp miễn dịch sinh học đang được nhiều nước phát triển áp dụng. Nguyên lý của phương pháp này là dựa trên vai trò của đại thực bào, tế bào sát thủ NK và Interferon trong việc ức chế một cách tự nhiên sự sinh sản của virus và các tế bào lạ. Các thầy thuốc sử dụng các tác nhân để kích thích hệ miễn dịch sản xuất ra đại thực bào, tế bào NK và interferon, interleukin nội sinh, nhờ đó mà có thể tiêu diệt và ức chế tối đa sự sinh sản của virus viêm gan B. Ưu điểm của phương pháp này là:

  • An toàn, không gây độc hại cho cơ thể
  • Giảm tối đa tải lượng virus viêm gan B trong máu nhờ cơ chế tác dụng phối hợp của đại thực bào, tế bào NK và interferon.
  • Đem lại lợi ích kép nhờ hệ miễn dịch khỏe mạnh, phòng chống được các nhiễm trùng khác và cả dự phòng ung thư.
  • Có khả năng ngăn chặn tế bào gan bị hoại tử một cách tự nhiên, dọn sạch các tế bào gan đã bị hoại tử nên nhanh chóng phục hồi chức năng gan, hạ men gan và ngăn chặn hiệu quả khả năng phát sinh viêm gan mãn, xơ gan, ung thư gan.

7. Sản phẩm nào hỗ trợ hiệu quả liệu pháp miễn dịch sinh học trong điều trị viêm gan B?

Lời khuyên bổ ích: Người mắc viêm gan B nên làm bạn với Beta 1,3D Glucan 500mg

Beta 1,3D glucan 500mg giúp hỗ trợ điều trị hiệu quả viêm gan B

Beta 1,3D Glucan 500mg - Hỗ trợ điều trị hiệu quả viêm gan B 

Beta 1,3D Glucan 500mg khi được đưa vào cơ thể sẽ có hai tác động: i) Tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ miễn dịch và ii) Thúc đẩy hệ miễn dịch sản xuất các tế bào, làm gia tăng nhanh chóng số lượng các tế bào miễn dịch, đặc biệt là tế bào đại thực bào, tế bào NK và interferon. Ba loại tế bào miễn dịch này phối hợp hoạt động với nhau tạo tra hai hiệu quả quan trọng:

  • Giảm tối đa tải lượng virus viêm gan trong máu, ức chế sự sinh sản và nhân lên của chúng, không cho phép tự do hoạt động. Nhờ đó mà giảm tối đa khả năng gây hoại tử tế bào gan của virus.
  • Đại thực bào sẽ "dọn sạch" những tế bào gan đã bị hoại tử, giúp gan phục hồi nhanh chóng các chức năng quan trọng.

Beta 1,3D glucan 500mg là sản phẩm tăng cường miễn dịch đứng dầu trong số 400 sản phẩm tăng cường miễn dịch của Mỹ, được INTERSOL nhập khẩu nguyên bản về Việt Nam. Beta 1,3D glucan 500mg đóng hộp 60 viên.

Bên cạnh khả năng hỗ trợ mạnh mẽ dieu tri viem gan B ... Beta 1,3D Glucan 500mg còn giúp tăng cường miễn dịch, dự phòng và hỗ trợ điều trị ung thư, đặc biệt giúp người bệnh không bị mệt mỏi.

>> Click vào đây để tìm hiểu sâu hơn về Beta 1,3 D Glucan 500mg

>> Mời bạn xem video: Tác dụng của Beta Glucan đối với việc tăng cường hệ miễn dịch cơ thể, tăng cường chức năng gan.

Bạn hãy nhấc máy lên và gọi tới số 0963 91 88 96 để nhận được tư vấn từ các bác sỹ của chúng tôi.

Hãy làm bạn với Beta 1,3D Glucan 500mg ngay hôm nay để cơ thể bạn có một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh, đồng thời giúp dự phòng và hỗ trợ điều trị viêm gan B hiệu quả cho những người mắc viêm gan B.

Xem thêm: